Hiện tại chùa thấp còn lưu giữ được hệ thống các pho tượng cổ như bộ tượng tam thế, tượng A Di Đà, ba chân tảng đá hoa sen có thể đoán định niên đại từ thời Lê, thậm chí còn sớm hơn. Qua tham khảo ý kiến Giáo sư Trần Lâm Biền bệ hoa sen của bộ tượng Tam thế có thể từ thời Lý- Trần, còn chân tảng đá hoa sen có thể có từ thời Mạc.
Tổng thể di tích:
Chùa Thấp tọa lạc hướng Đông Bắc, cuối làng Đông Cầu. Di tích nằm trong khu dân cư, phía Bắc giáp trường mầm non bán công Hạ Bằng, phía nam giáp đường bê tông, phía đông giáp ao, vườn…Hiện tại, kết cấu kiến trúc chùa Thấp khá vững chãi, hệ thống tượng thờ chất liệu bằng đất có giá trị nghệ thuật cao đang bị xuống cấp.
· Cổng:
Cổng chùa Thấp được làm năm 2003, kết cấu gồm hai cột trụ biểu, nối hai trụ biểu là phần mái cổng tạo vòm cuối. Trụ biểu gồm đỉnh trụ: hoa sen, ô lồng đèn để trống; thân trụ viết chữ Hán; đế trụ thắt cổ bồng. Phần mái cổng đề chữ Hán thiên Trúc môn, bên dưới là cổng sắt.
· Sân:
Từ cổng qua lối đi lát gạch dẫn vào sân chùa. Mặt sân chùa phần lớn là gạch bát, còn lại là xi măng, trong sân chùa có nhiều cây xanh tỏa bóng mát, đặc biệt có cây duối hàng trăm tuổi.
· Tiền đường:
Là nếp nhà 3 gian 2 dĩ, tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ri, bờ nóc lợp ngói bò, hai đầu bờ nóc đắp hai đấu đinh, cuối bờ dải xây giật nhị cấp. Từ cuối bờ dải nối qua tường lửng là hai trụ cột có kết cấu đơn giản, không đắp chữ Hán và các hoa văn trang trí. Hệ thống cửa Tiền đường bằng gỗ làm kiểu bức bàn truyền thống và kiểu thượng song hạ bản.
Từ sân bước lên hiên chùa, qua ngưỡng cửa bức bàn vào không gian bên trong chùa. Nền tiền đường lát gạch bát 30cm x 30cm. Mặt sau tiền đường để trống không có tường, vách ngăn để đón ánh nắng vào trong nhà thờ khoảng sân lọng nối tiếp giữa tiền đường và thượng điện. Lòng gian giữa 3,15m, gian bên là 2,8m, gian trái là 2,8m. Hoành mái có tiết diện vuông, các bước hoành phân chia theo tỷ lệ thượng tam hạ tứ theo di tích truyền thống. Tương ứng với 3 gian 2 dĩ là 4 bộ vì gỗ trên 4 hàng chân cột, trốn 1 hàng cột cái.
Các bộ vì đỡ mái chất liệu gỗ, làm thống nhất theo kiểu: thượng giá chiêng chồng rường; hạ bán giá chiêng, chồng rường; vì hiên chồng rường trên bốn hàng chân cột cái lửng tì lực trên quá giang. Bộ vì được liên kết như sau: một quá giang ăn mộng qua một hàng cột cái và hàng cột cái lửng. Vì nóc gồm một câu đầu lớn có lưng dạ phẳng ăn mộng qua hai đầu cột cái, trên câu đầu là các trụ trốn liên kết với các con rường cụt, hai trụ trốn ở giữa đỡ con rường bụng lợn- đỡ thượng lương qua đấu kê hình thuyền. Góc liên kết giữa câu đầu và cột cái là đầu dư tạo tác đầu rồng. Vì nách: gồm các con rường ăn mộng vào cột quân và cột hiên, trên xà là hai con rường chồng lên nhau; bẩy hiên ăn mộng qua cột hiên, đuôi bẩy là nghé nằm phía trong đầu cột quân, đầu bẩy ăn mộng vào tàu mái, phía trên đầu bẩy là ván dong. Các cấu kiện gỗ bộ vì tiền đường đường được bào trơn đóng bén thiên về độ chắc khỏe, hoa văn trang trí chủ yếu chạm nổi hình lá lật mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XX.
· Thượng điện:
Tòa thượng điện có vị trí song song tiền đường, kết cấu và trang trí trên mái tương tự tòa tiền đường. Thượng điện xây tường bao ba phía bằng đá ong là chất liệu truyền thống đặc biệt của vùng xứ Đoài, phía trước để trống không có cửa, nền lát gạch bát. Chiều dài các bước gian tòa thượng điện tương đương tiền đường. Hoành mái có tiết diện vuông, các bước hoành phân chia theo tỉ lệ thượng tam hạ tứ theo kết cấu di tích truyền thống. Tương ứng với 3 gian 2 dĩ là 4 bộ vì gỗ làm tương tự nhau theo kiểu “ thượng giá chiêng chồng rường; hạ kẻ ngồi; hiên tiền kẻ bẩy, hậu bẩy kết cấu trên 5 hàng chân cột. Tổng số cột ở tòa thượng điện khoảng 20 cột gỗ mít.
Kiến thức vì nóc thượng điện tương tự tiền đường. Kết cấu vì nách thượng điện: gồm một xà nách ăn mộng vào thân cột cái, đầu kia ăn mộng vào xà nách, thân kẻ đỡ các hoành qua ván dong.
Hệ liên kết cuối cùng của bộ vì là kẻ liền bẩy. Ở đây, kẻ ăn mộng từ cột quân qua cột hiên, đầu kẻ vươn ra tạo thành bẩy đỡ tàu mái, phía trên đầu bẩy là ván dong. Kết cấu và trang trí trên các bộ vì thượng điện còn lưu giữ được một số cấu kiện, mảng chạm có niên đại sớm và giá trị nghệ thuật như: câu đầu, kẻ ngồi, nghé, kẻ liền bẩy bộ vì gian giữa bên tả; kẻ ngồi, đầu dư, kẻ liền bẩy của bộ vì giữa bên hữu, con rường, câu đầu vì nóc gian bên hữu. Nghệ thuật trạm khắc trên các bộ vì mang đặc trưng phong cách thế kỷ 19. Tại đây, bàn tay tài hoa của các nghệ nhân đã thể hiện những đường nét đục, trạm khéo léo: trên kẻ bẩy là những mảng trạm nổi hoa văn lá lật, vân mây; trên đầu dư tạo tác hình khối, hoa văn đầu linh vật rồng với kỹ thuật chạm bong kênh, chạm nổi.