Cũng như nhiều ngôi chùa khác, chùa Dư Xá Hạ ra đời đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng thờ Phật của người dân Dư Xá hạ. Tuy thế, Đạo Phật ra đời và phát triển như thế nào ở Việt nam nói chung và ở Hà Nội nói riêng là vấn để cần phải bàn tới ở đây.
Đạo Phật ra đời vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên (cách ngày nay hơn 2500 năm) ở một tiểu quốc thuộc Ấn Độ. Dần về sau, đạo Phật lan toả nhiều nơi và trở thành một trong ba tôn giáo lớn của thế giới (cùng với đạo Gia Tô và đạo Hồi). Người sáng lập là Thích Ca Mâu Ni. Gốc của đạo Phật là một hệ triết học vô thần, cố tìm tới cốt lõi tận cùng của sự vật, rất đề cao trí tuệ để giác ngộ mà giải thoát, chú trọng nếp sống trong sáng, coi nhẹ lễ nghi, bác bỏ sự phân biệt đẳng cấp.
Căn cứ vào những di vật còn lại, đặc biệt là trên quả chuông của chùa, cho biết chùa Dư Xá Hạ ít nhất có từ trước thế kỷ XVIII. Dù thời gian xuất hiện sớm hay muộn thì ngôi chùa cho đến nay đã và vẫn luôn là nơi giáo dục lòng nhân nghĩa cho con người. Đây cũng là nơi giới thiệu và phát huy truyền thống lao động sáng tạo của tổ tiên cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Chùa Dư Xá hạ nằm trong vùng đất có bề dày lịch sử khá lâu đời. Cũng như ngôi đình và ngôi đền, chùa Dư Xá Hạ nằm trong vùng đất được xây dựng sớm trong quy hoạch chung và kiến trúc truyền thống của một làng Việt cổ. Mặt bằng hiện tại của ngôi chùa gồm các hạng mục công trình như: Tam quan, Tiền đường, Tam bảo, nhà Tổ, nhà Mẫu và các công trình phụ trợ khác.
Tam quan chùa Dư Xá Hạ là một công trình đồ sộ. Qua đây có thể thấy rằng dân làng Dư Xá Hạ rất giàu có, thịnh vượng. Tam quan được xây bằng gạch lục kiểu cuốn vòm bên trong với hai tầng mái. Tầng dưới Tam quan với 3 lối xuất nhập (ngụ ý ba điều cần xem xét rõ trong đạo Phật) là không quan, giả quan và trung quan.
Không quan là xem xét sự vật gì đều không có thực tính và thực tướng, tức là không cả.
Giả quan là xét nhận chư pháp đều biến hoá vô thường, tức là giá cả.
Trung quan là xét theo lẽ không phải không mà cũng không phải giả, ở giữa lại có lần cả không và giả, đó là chỗ chính yếu ở con đường vào cửa Phật.
Chùa chính có kết cấu chữ Đinh với Tiền đường và Thượng điện. Tiền đường gồm 5 gian, 2 tầng 3 mái, các mái chảy xuôi. Bờ nóc đắp bờ đỉnh, hai đầu bờ nóc là hai đấu đỉnh, bờ giải xây giật cấp. Phần trống giữa hai mái có các ô vuông không đều nhau, mỗi ô vuông trang trí một tích cổ. Dấu ấn Nguyễn còn hiến hiện trên các đồ thờ tự như hoành phi, cuốn thư, cửa võng và hiện diện trên kiến trúc tổng thể tòa Tiền đường.
Tam bảo được nối liền với gian giữa Tiền đường tạo thành hình chuôi vồ. Đây là nơi bài trí hệ thống tượng Phật.
Hệ thống tượng Phật ở chùa cơ bản có niên đại đầu thế kỷ XX, gồm hơn 30 pho tượng được tạo tác từ gỗ, ngoài ra còn nhiều tượng nhỏ đặt tại nhà Mẫu và tượng Tổ đặt tại nhà Tổ.
Trong Tam bảo, ở vị trí cao nhất là pho Tam thế, Các pho tượng được tạo tác trong tư thế ngồi âm chương trên toà sen. Hai tay các pho tượng kết định ấn đặt ngửa trong lòng đùi. Sọ tượng nở, mặt đầy đặn cân đối, huyệt vô kiến đỉnh nổi rõ trên đỉnh đầu. Mặt tượng được khái quát theo nguyên tắc truyền thống: mắt khép hờ nhìn xuống, sống mũi thẳng, miệng phảng phất nụ cười cứu độ. Các cụm tóc vấn dầy, kết hạt nhỏ. Áo tượng ba lớp, lớp trong thắt múi trước bụng. Cổ tượng cao ba ngấn, tai dài chảy xệ.
Lớp thứ hai là tượng A Di Đà. Đây là bộ tượng có kích thước lớn nhất trong chùa. Tượng A Di Đà có u nhục kháo nổi cao, giữa đỉnh là huyệt vô kiến được thể hiện dưới dạng xoắn ốc. Mặt tượng tròn đầy đặn, cầm xệ, dái tai to chảy dài. Tượng ngồi âm dương trên toà sen lộ bàn chân phải trên đùi trái, hai tay kết định ấn đặt ngửa trong lòng đùi. Áo tượng với các lớp áo thả mềm mại. Tượng nhị vị Quan Âm ngồi trên đài sen ở hai bên tượng A Di Đà. Tượng Quan Âm bên phải nhìn từ dưới lên là tượng có niên đại sớm nhất trong ngôi chùa.
Lớp tượng thứ 3 là Thích ca niệm hoa và hai bên là An Nan và Ca Diếp.
Lớp thứ 4 là tượng Ngọc Hoàng và tượng Nam Tào - Bắc Đẩu hai bên với đầu đội mũ cánh chuồn, mình mặc áo triều phục, chân đi hia.
Tiếp theo là tòa Cửu Long và hai bên là tượng Thổ địa và Giám Trai. Toà Cửu Long bằng gỗ, chạm theo kiểu vòm cầu, trong vòm cầu có những tầng mây xoắn có 9 con rồng nhỏ đầu phun nước tắm cho Thích Ca sơ sinh. Thích Ca sơ sinh đứng trên toà sen, ngực để trần, mặc váy, tay phải chỉ đất, tay trái chỉ trời theo tích của nhà Phật. Hai pho Thổ địa và Giám trai được tạo tác trong tư thế ngồi hai bên trên bệ.
Hai gian bên tòa Tiền Đường là tượng Đức Ông bên phải và tượng Đức Thánh hiền bên trái, bên cạnh là bộ tượng khuyến thiện trừng ác.
Các hiện vật có trong di tích
Ngoài những giá trị về mặt kiến trúc và nghệ thuật. Chùa Dư Xá hạ qua thời gian tồn tại còn bảo lưu được một số di vật quý có giá trị như:
- 01 quả chuông đồng, niên đại: Duy Tân nguyên niên.
- 01 bát hương thổ hà.
- nhiều di vật có giá trị như đài nước, chân đèn.
- Hơn 30 tượng phật được làm từ gỗ và đất luyện.
Hàng năm tại chùa, vào các ngày lễ lớn như: Phật đản, vào hè, ra hè, vu lan, giỗ sư tổ chùa, giỗ Đức Thánh, giỗ Mẫu... thường được chùa tổ chức theo các nghi thức tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống. Dân làng tự do đến chùa lễ Phật và tuỳ tâm dâng lễ cũng như phát tâm công đức. Trước cửa Phật mọi người đều bình đẳng như nhau. Người dân rất có ý thức trong việc giữ gìn sự thanh tịnh và những giá trị đích thực của ngôi chùa.